Nghề gốm Việt – Dòng chảy nghìn năm
03/11/2025 - Lượt xem: 20
ừ thuở con người biết lấy đất nặn hình, nung trong lửa để tạo nên vật dụng, gốm đã trở thành chứng nhân của nền văn minh Việt. Qua hàng nghìn năm, từ bàn tay khéo léo của người thợ, từ lò gốm thô sơ nơi làng quê đến những xưởng hiện đại hôm nay, nghề gốm Việt vẫn bền bỉ giữ hồn đất, hồn người qua từng thớ men, từng đường nét tinh xảo.
Từ đất mẹ – nơi khai sinh nghề gốm
Việt Nam – một đất nước nằm ở vùng Đông Nam Á, nơi được xem là cái nôi của loài người – sở hữu điều kiện thiên nhiên ưu đãi để nghề gốm sớm hình thành. Đất sét, cao lanh, thạch anh, đá vôi, cùng nguồn nhiên liệu dồi dào như củi, than, rơm rạ đã tạo nên nền tảng cho một nghề cổ truyền rực rỡ.
Từ hơn một vạn năm trước, con người Việt đã biết tạo ra những vật dụng bằng đất nung. Trải qua tiến trình lịch sử, nghề gốm liên tục phát triển – từ gốm không men đến gốm men, từ gốm đất nung đến sành, sứ; từ đồ gia dụng đến gốm thờ, gốm kiến trúc và gốm mỹ thuật.
Gốm Việt trước Công nguyên – dấu ấn từ thời tiền sử
Theo các nhà khảo cổ học, từ văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Quỳnh Văn, Cái Bèo..., những mảnh gốm có niên đại 9.000 – 11.000 năm đã được tìm thấy. Đồ gốm thời kỳ này có xương đất thô, pha cát hoặc bã thực vật, được nặn tay và nung trong bếp lửa. Hoa văn trang trí còn đơn giản: khắc vạch, chải răng lược, in vỏ sò.
|

|
|
Gốm Việt thế kỷ II - III
|
Từ thế kỷ I đến X – Gốm Việt giữa giao thoa và khẳng định
Thời kỳ Bắc thuộc, dù chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Hoa, nghề gốm Việt vẫn duy trì và phát triển. Các lò nung ở Tam Thọ (Thanh Hóa), Thăng Long, Bắc Ninh… sản xuất ra nhiều loại gốm sành, gốm tráng men, gạch ngói hoa văn tinh xảo. Lò Tam Thọ được xem là trung tâm lớn, nơi người Việt và người Hán cùng làm chủ kỹ thuật.
Thế kỷ X – XIV: Thời hoàng kim của gốm Đại Việt
Sau khi giành lại độc lập, các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần đã đưa nghề gốm lên đỉnh cao. Từ kinh đô Thăng Long, nghề gốm phát triển rực rỡ phục vụ cung điện, chùa tháp và dân gian. Các dòng gốm men ngọc, men trắng ngà, hoa nâu, nền nâu hoa trắng trở thành biểu tượng.
|

|
|
Gốm thời Trần
|
Thế kỷ XV – XIX: Gốm Việt vươn ra thế giới
Thời Lê sơ, Mạc, Nguyễn là giai đoạn vàng son của nghề gốm. Hàng loạt trung tâm lớn ra đời: Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Thổ Hà, Hương Canh, Gò Sành, Phước Tích, Lái Thiêu, Biên Hòa... Đặc biệt, gốm Chu Đậu – Hải Dương nổi tiếng với gốm hoa lam, men ngọc, men tam sắc, vẽ phóng bút tinh tế.
Thế kỷ XX: Gốm Việt giữa biến động và hồi sinh
Bước vào thế kỷ XX, chiến tranh và thuộc địa khiến nhiều làng gốm truyền thống sa sút. Tuy vậy, Bát Tràng, Thổ Hà, Hương Canh, Long Thọ, Lái Thiêu, Biên Hòa... vẫn giữ lửa nghề. Dù khó khăn, ngọn lửa nghề vẫn chưa bao giờ tắt, để rồi khi đất nước thống nhất, nghề gốm bước sang giai đoạn mới.
Gốm Việt thế kỷ XXI – Giữ hồn xưa, thổi hồn mới
Ngày nay, gốm Việt đã vượt khỏi khuôn khổ làng nghề. Nhiều cơ sở được đầu tư hiện đại, kết hợp truyền thống và công nghệ: Bát Tràng trở thành điểm đến du lịch văn hóa; Chu Đậu, Phù Lãng, Biên Hòa sản xuất gốm mỹ thuật, gốm xuất khẩu. Dù công nghệ thay đổi, nhưng điều cốt lõi vẫn là người thợ gửi hồn vào đất – để đất hóa thành tác phẩm.
|

|
|
Gốm thời Lê sơ
|
Từ những mảnh gốm vỡ trong lòng đất cổ cho tới những sản phẩm trưng bày tại bảo tàng và xuất khẩu toàn cầu, nghề gốm Việt đã đi cùng lịch sử dân tộc. Đó không chỉ là nghề, mà là một di sản sống, minh chứng cho bàn tay tài hoa, cho tâm hồn Việt – luôn biết gìn giữ, sáng tạo và vươn lên từ chính hạt đất quê hương.
|

|
|
Cơ sở sản xuất gốm Chu Đậu hiện nay
|
Tổng hợp: Nguyễn Thùy (Nguồn: theo TC Làng nghề VN)
Các tin tức khác