Sáng sớm ở làng nón Sai Nga (Cẩm Khê), bên hiên nhà ngói, bàn tay người thợ thoăn thoắt khâu lá, vót nan. Tiếng kéo, tiếng kim, mùi tre nứa mới tước tạo nên nhịp điệu quen thuộc của làng nghề gần 80 năm tuổi. Nghề làm nón theo chân dân làng Chuông (Hà Nội) về đây trong thời tản cư, gắn bó, nuôi sống bao thế hệ. Hiện hơn 500 hộ vẫn bám nghề, mỗi năm làm khoảng 550.000 chiếc nón, đem lại hàng chục tỷ đồng. Sai Nga được công nhận là làng nghề từ năm 2004, sản phẩm nón lá đạt OCOP 3 sao năm 2021 và nâng hạng 4 sao năm 2024.
Ở cửa ngõ Tây Bắc, làng rượu Mai Hạ (Mai Châu) của người Thái đỏ lửa qua nhiều đời. Bí quyết nằm ở men lá từ hàng chục loại thảo dược rừng: riềng, gừng, ổi, hồng bì, bưởi… Sắn khô ủ men, chưng cất bằng nồi gỗ cho ra thứ rượu trong, nồng, mạnh nhưng êm. Từ sản phẩm phục vụ lễ hội, nay rượu Mai Hạ đã thành OCOP, có nhãn mác, tiêu thụ rộng rãi. Hiện 33 hộ duy trì nghề, riêng cơ sở “Láu Siêu” của bà Vì Thị Tồn đạt hơn 30.000 lít/năm, doanh thu khoảng 1,5 tỷ đồng.
Từ nón Sai Nga đến rượu Mai Hạ, mỗi làng nghề một sắc thái nhưng đều góp phần làm nên diện mạo làng nghề Phú Thọ: bền bỉ, giàu bản sắc, tạo sinh kế cho hàng vạn người. Toàn tỉnh có hơn 110 làng nghề, thu hút trên 3 vạn hộ, khoảng 43.000 lao động. Thu nhập dao động 5 – 7 triệu đồng/người/tháng ở làng nghề nhỏ, đến hàng chục triệu đồng ở nơi có thị trường ổn định, sản phẩm xuất khẩu.
Tuy nhiên, lớp thợ trẻ ngày càng thưa vắng. Theo ông Nguyễn Hữu Chí – Chủ tịch UBND xã Cẩm Khê, lao động chuyển sang khu công nghiệp, thói quen tiêu dùng thay đổi khiến người trẻ ít mặn mà. Khó khăn còn ở vốn, thiết bị lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu đầu ra ổn định, giá nguyên liệu tăng, ô nhiễm môi trường…
Để làng nghề trụ vững, cần chiến lược dài hơi. Ông Nguyễn Thanh Hiệp – Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn khẳng định: không thể chỉ dựa vào thói quen tiêu dùng truyền thống. Giải pháp là ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa sản xuất, mở rộng thị trường qua du lịch và thương mại điện tử.
Mục tiêu đến 2030, ngành nghề nông thôn tăng trưởng 6 – 7%/năm, thu nhập bình quân lao động tăng hơn 2,5 lần so với năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 80% trở lên (trong đó ít nhất 35% có bằng/chứng chỉ nghề). Đến 2045, ngành nghề nông thôn trở thành trụ cột kinh tế bền vững, thông minh, gắn với không gian xanh – sạch – đẹp, bảo tồn văn hoá truyền thống. Ba mũi nhọn đã được xác định: đào tạo, giữ chân lao động trẻ; đổi mới công nghệ; xây dựng thương hiệu.
Nguồn vốn khuyến công đang giúp nhiều cơ sở thay máy móc, nâng năng suất, cải thiện chất lượng. Sản phẩm không chỉ có mặt ở chợ quê mà còn gắn tem truy xuất, tham gia OCOP, lên kệ siêu thị, sàn thương mại điện tử. Một hướng đi triển vọng là gắn làng nghề với du lịch trải nghiệm. Du khách được tận tay nặn gốm, khâu nón, nhuộm vải… mang về một món quà “độc bản” của riêng mình. Ở những làng nghề làm tốt, lượng khách và dịch vụ phụ trợ tăng đều hằng năm.
Những bước đi ấy, nếu kiên trì, sẽ giúp làng nghề Phú Thọ vừa giữ được hồn cốt truyền thống, vừa trở thành điểm nhấn văn hóa – kinh tế của vùng trung du. Giữa nhịp sống đổi thay, bản sắc vẫn hiện hữu trong tiếng búa rèn, hơi ấm lò than, mùi hương nguyên liệu. Giữ nghề không chỉ là việc của thợ mà còn là trách nhiệm của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đáp án cho bài toán giữ nghề – mở lối chính là: đổi mới để sản phẩm bước ra thị trường với sức cạnh tranh mới, nhưng vẫn trọn vẹn câu chuyện và hồn cốt xưa. Để mỗi sản phẩm khi rời tay người thợ không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là một phần bản sắc vùng đất cội nguồn.